Nguyễn Mạnh Tường – Tiểu thuyết Une voix dans la nuit – I: Cải cách ruộng đất và cải tạo tư sản

“Chưa bao giờ ở nước ta và trong cả lịch sử loài người, một chính quyền dám khẳng định sự áp chế vô nhân đạo đến độ không đoái hoài đến nỗi đau khổ cá nhân và gia đình như thế. Chưa bao giờ, kể cả trong lúc thác loạn điên khùng nhất, một bạo chúa dám động đến quyền sở hữu cá nhân và đập vỡ viên gạch nền móng của xã hội loài người”. Nguyễn Mạnh Tường.

 Trong buổi nói chuyện trên RFI tháng 9/1995, trả lời câu hỏi: Từ sự đoàn kết dân tộc thời toàn quốc kháng chiến 1946, đến thời kỳ phân hoá chia rẽ dân tộc chỉ có 10 năm. Tại sao? Nguyễn Hữu Đang giải thích: 

“Có thể hiểu việc đó như thế này: Ngay trong cương lĩnh của đảng Cộng sản Đông Dương cũng ghi rõ là làm Cách mạng để tiến tới Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cho nên 10 năm sau, nhất định nước Việt Nam phải tiến lên Chủ nghĩa xã hội và muốn tiến lên Chủ nghĩa xã hội thì phải tiến hành Đấu tranh giai cấp, phải xóa bỏ địa vị, quyền lợi của hai giai cấp bóc lột là giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản. Trước kia đoàn kết Mặt trận giải phóng dân tộc, giờ đây phải Đấu tranh giai cấp để tiến tới Chủ nghĩa xã hội. Trong Đấu tranh giai cấp như thế thì quyết liệt lắm, có ảnh hưởng chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao Trạch Đông là quá tả, rất ác liệt, (…) Chúng tôi chống, là chống- cái chủ nghĩa Staline và chống chủ nghĩa Mao Trạch Ðông. Sự thâm nhập của chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao Trạch Đông đưa đến nhiều hiện tượng -nói là chuyên chính thì chưa đủ- phải nói là cực quyền toàn trị, nó gay gắt ghê lắm. Nó gay gắt ghê lắm! Ðảng Cộng Sản đã phạm sai lầm trong Cải cách ruộng đất, rồi thì Chỉnh huấn, Chấn chỉnh tổ chức, Ðăng ký hộ khẩu v.v… Tất cả những cái đó đều do những cái quá tả, từ phương Bắc nó xâm nhập vào, chứ không phải chờ đến bây giờ nó mới đem cái tả khuynh hữu trí vào nước Việt Nam. Cái thời mà cụ Hồ chưa về nước và ông Trần Phú làm Tổng bí thư, thì làm cái cuộc gọi là Xô Viết Nghệ Tĩnh, đưa ra cái khẩu hiện rất quái gở tức là “Trí, phú, địa, hào đánh tận gốc, trốc tận rễ”. Nó quá tả như thế thì còn làm sao giành được độc lập! Như thế là chia rẽ dân tộc”.

Heinz Schutte, trong bài Năm mươi năm sau: Trăm hoa đua đua nở ở Việt Nam 1954-1960 tóm tắt rất sát tình hình miền Bắc thập niên 1950 như sau:

“Tháng 1/1950, Đại Hội III Đảng Cộng sản, tuyên bố Việt Nam chính thức đi theo đường lối Trung Quốc và đẩy mạnh chủ trương đấu tranh giai cấp trong cả nước. Điều này dẫn tới việc thủ tiêu những người bị cho là những “phần tử phản cách mạng”. Sách vở Trung Quốc, đặc biệt những tác phẩm của Mao được dịch ra tiếng Việt -vài tác phẩm do chính Hồ Chí Minh dịch- để truyền bá những phương pháp của Trung Quốc trong việc vận dụng chủ nghiã Mác-Lê-Mao, trong việc tiến hành cách mạng và cải tạo tư tưởng ở Việt Nam. Tại chiến khu Việt Bắc, từ những năm 1951 đã có các khoá chỉnh huấn tư tưởng dành cho trí thức” (Trích bản dịch từ tiếng Đức của Talawas).

Hầu như tất cả những nhà trí thức đối lập hàng đầu như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Hữu Đang đều chống Đấu tranh giai cấp. Đấu tranh giai cấp nẩy sinh Chỉnh huấn. Chỉnh huấn chuẩn bị cho Giảm tô. Sau Giảm tô đến Cải cách ruộng đất, Cải tạo tư sản, và sau cùng là Thanh trừng trí thức. Các chính sách này nối tiếp nhau trong 10 năm, từ 1950 đến 1960, để hoàn thành cuộc Cách mạng xã hội chủ nghiã.

Cho đến nay, hai tác giả viết về tiến trình “xây dựng xã hội chủ nghiã” một cách rõ rệt nhất là Hoàng Văn Chí trong Từ thực dân đến Cộng sản và Nguyễn Mạnh Tường trong Une voix dans la nuit-Tiếng vọng trong đêm. Sách của Hoàng Văn Chí, dưới dạng nghiên cứu, ra đời từ 1962, nguyên tác tiếng Anh, đã được dịch sang tiếng Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và tiếng Việt do chính tác giả dịch, đã được phổ biến rộng rãi và được Pham Thị Hoài đưa lên Talawas những năm gần đây. Tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tường, trong khi chờ đợi được đánh máy, kèm với bản chụp ảnh và bản dịch sẽ đưa dần lên Internet, hôm nay, chúng tôi dịch và giới thiệu những phần chính trên RFI, giống như việc Boudarel đã làm khi ông giới thiệu bài Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo” của Nguyễn Mạnh Tường ra tiếng Pháp cách đây hơn 20 năm. Nhưng trước khi đọc Nguyễn Mạnh Tường, chúng ta cần nhìn lại chiến dịch Cải cách ruộng đất qua sự phân tích của Hoàng Văn Chí.

Từ Chỉnh huấn đến Cải cách ruộng đất

Theo Hoàng Văn Chí, ở Khu Tư, Nguyễn Sơn có viết mấy cuốn sách nhỏ về Chỉnh quân, Chỉnh phong, và Chỉnh Đảng. Chỉnh là chỉnh đốn tư tưởng và tác phong. Chỉnh quân cho quân đội, Chỉnh Đảng cho đảng viên, và Chỉnh phong cho người ngoài đảng. Vì không ưa Nguyễn Sơn nên Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp không dùng, chỉ chép lại những nét đại cương, lập nên phong trào Rèn cán chỉnh cơ (Rèn luyện cán bộ và chỉnh đốn cơ quan). Mãi sau này, khi Nguyễn Sơn đã trở lại Tàu năm 1950, và cố vấn Trung Quốc đã sang Bắc Việt để huấn luyện, thì Đảng mới áp dụng phương pháp “cải tạo tư tưởng” hoàn toàn theo kiểu Mao, gồm Chỉnh phong, Chỉnh Đảng hợp lại gọi là Chỉnh huấn. Chỉnh huấn chia làm nhiều đợt để mọi người có thể thay phiên nhau nghỉ việc, đi học. Mỗi khoá chỉnh huấn dài ba tháng, thêm một tháng sắp xếp ăn ở. Vì vậy, mỗi chiến dịch chỉnh huấn kéo dài từ 1 năm đến 18 tháng, cán bộ cao cấp đi học trước, rồi về dạy học viên khoá đầu.

Các bài học do Trường Chinh soạn, nhưng một phần được in lại từ cuốn sách Sửa đổi lề lối làm việc của XYZ (XYZ là một biệt hiệu của Hồ Chí Minh), do nhà xuất bản Sự Thật in và chính ông Hồ viết năm 1946. Như vậy, Cải cách ruộng đất là công trình soạn thảo chung của Hồ Chí Minh và Trường Chinh. Vẫn theo Hoàng Văn Chí, khi học viên có thắc mắc mà giáo viên đả thông không nổi, thì ông Trường Chinh, Tổng Bí Thư Đảng sẽ đến. Nếu ông Trường Chinh cũng không thuyết phục được, thì ông Hồ sẽ thân hành đến. Chưa có thắc mắc nào mà ông Hồ không đả thông nổi. Khoá chỉnh huấn 1953-1954, mà ông Hoàng Văn Chí tham dự, gồm 5 bài học:

1- Thái độ học tập. 2- Lịch sử cách mạng Việt Nam. 3- Tình hình mới, nhiệm vụ mới.4- Tác phong cán bộ và đảng viên. 5- Cải cách ruộng đất.

Bài học thứ 5, về Cải cách ruộng đất, nhắm vào năm điểm chính:

1/ Bản chất nông dân rất thực tế (tức là hám lợi). 2/ Vậy để họ phấn khởi, ta nên cấp phát cho họ đủ ruộng đất cầy cấy, thành chủ nhân ông ruộng đất của mình. 3/ Địa chủ là thành phần bóc lột. Là kẻ thù số một của nhân dân. 3/ Nhưng chỉ có nhân dân mới biết rõ, ai là địa chủ phản động gian ác. 5/ Vậy phải để cho nhân dân lãnh đạo đấu tố. Đảng đứng sau hướng dẫn.

Tài liệu chính trong bài học thứ 5 này là bản báo cáo của Trường Chinh đọc tại Đại hội I của Đảng Lao Động, họp tại Việt Bắc từ 14 đến 23/11/1953, chính thức đưa chính sách Đấu tranh giai cấp vào Việt Nam. Trường Chinh lập luận:

Chế độ cũ là chế độ bóc lột. Việt Nam có 5% dân số là địa chủ, chiếm 70% diện tích ruộng đất trong nước. Nếu lấy lại ruộng đất ấy, chia đều cho mọi người thì mỗi gia đình sẽ được 1 héc-ta. Địa chủ luôn luôn cấu kết với đế quốc Pháp. Địa chủ và đế quốc đều là kẻ thù. Phải tiêu diệt cả hai: Phản đế là tiêu diệt đế quốc (Pháp). Phản phong là chống phong kiến, tức là tiêu diệt giai cấp địa chủ.

Vì trí thức không dễ dàng chấp nhận chính sách Cải cách ruộng đất theo kiểu Mao, nên Đảng phải tổ chức các chiến dịch Chỉnh huấn để đả thông tư tưởng. Những người tham dự chỉnh huấn xuất thân trung lưu hoặc khá giả, họ đã chấp nhận lập luận của Đảng, với hy vọng, nếu có bị ghép vào thành phần địa chủ, thì cũng là địa chủ tiến bộ, đã theo kháng chiến và theo Đảng.

Cuộc Cải cách ruộng đất được thực hiện qua hai chiến dịch: Giảm tô (1953-54) và Cải cách ruộng đất đích thực (1954-56) đều có đấu tố và xử bắn địa chủ. Hai chiến dịch này không thực hiện cùng một lúc trên toàn quốc, mà làm từng đợt ở những vùng mà đảng cộng sản nắm vững, thành một vết dầu loang. Mỗi chiến dịch có 5 đợt. Cả hai chiến dịch đều nhắm mục đích tiêu diệt toàn bộ địa chủ để thành lập chế độ vô sản chuyên chính ở nông thôn.

Vài tháng sau cuộc “Đấu tranh chính trị” (là cuộc khủng bố từ tối 23/12 Nhâm Thìn (7/2/1953) nhằm ngày ông Táo chầu trời, kéo dài trong nửa tháng, tiêu diệt tất cả thành phần phản động), chính quyền mới bắt đầu thực hiện chiến dịch Giảm tô.

Giảm tô [địa tô viết tắt, địa tô là tiền hay hiện vật người thuê đất (tá điền) phải giả cho người chủ đất (địa chủ)]. Vài năm trước, chính quyền đã ra luật bắt địa chủ phải giảm thu địa tô 30%, giống chính sách Giảm tô thuần tuý thực hiện ở Trung Quốc trước 1949, trong vùng Mao chiếm đóng. Chiến dịch Giảm tô của Trường Chinh 1953, là phần đầu của chính sách Cải cách ruộng đất, có đấu tố và xử bắn địa chủ; chỉ khác Cải cách ruộng đất ở điểm: Giảm Tô giới hạn trong số ít người, còn Cải cách ruộng đất, số người bị quy là địa chủ tăng gấp năm lần so với Giảm tô. Thực chất Giảm tô như sau:

Một đoàn cán bộ đã được huấn luyện ở Trung quốc giả dạng làm nông dân bí mật về làng. Họ thực hành chính sách gọi là ba cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với chủ nhà) trong ba tháng, làm giúp mà không lấy công, góp phần ăn với chủ nhà. Họ có nhiệm vụ điều tra và “giác ngộ” người nông dân về sự tàn ác của địa chủ. Người nông dân được “giác ngộ” gọi là “rễ”, và công tác kể trên gọi là “bắt rễ”. Từ đó, cán bộ chỉ hành động qua cái “rễ”, và rễ A sẽ kết nạp B, B kết nạp C… việc này gọi là “xâu chuỗi”; B, C, D… được gọi là cốt cán. Sau vài tháng hoạt động như vậy, cán bộ có đầy đủ thông tin về cả làng và sẽ báo cáo bí mật với Đoàn Cải cách ruộng đất đóng ở tỉnh. Cán bộ quy định tất cả các thành phần trong làng, đặc biệt thành phần địa chủ và gán cho người nào những tội gì.

Tới lúc đó Đội Cải cách ruộng đất mới ra mắt công khai, đứng lên điều khiển mọi việc trong làng, thay mặt cơ quan hành chính địa phương. Chiến dịch có 6 bước liên tiếp: 1/ Định thành phần. 2/ Phân loại địa chủ. 3/ Tống tiền: Địa chủ bị bắt rồi, vợ con sẽ phải trả ngay một số tiền gọi là “thoái tô” hoặc “nợ nông dân” tức là phải trả lại số tô đã thu “quá mức” trong 4, 5 năm vừa qua. 4/ Tố khổ: Nông dân được học tập cách tố khổ, lập danh sách tội ác của địa chủ. 5/ Đấu địa chủ: Địa chủ được mang ra đấu trường. 6/ Xử án địa chủ: Vài ngày sau cuộc đấu, một toà án nhân dân đặc biệt tới xã, xử những người bị tố, toà án toàn là bần cố nông không ai có kiến thức về luật pháp.

Chiến dịch Giảm tô, đánh vào thành phần địa chủ “đầu sỏ” phản động, bóc lột. Khoảng một năm sau chiến dịch Giảm tô, Đảng thi hành chiến dịch Cải cách ruộng đất đích thực.

Cải cách ruộng đất đích thực là cuộc thanh trừng quy mô trong toàn quốc, thực hiện ngay trong hàng ngũ Đảng. Các đảng viên cũng bị thanh trừng như quần chúng ngoài đảng. Lần này Đảng ấn định cho mỗi xã một con số tối thiểu địa chủ gấp năm lần chiến dịch Giảm tô. Và như vậy, không đủ con số địa chủ để đánh, phải đánh tới các thành phần dưới là phú nông, có nơi tới cả bần nông. Khi Cải cách ruộng đất đợt 5, tức là đợt cuối cùng, chấm dứt, Đảng mới tuyên bố Sửa sai. (Theo Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, nxb Chân Trời Mới, 1962, từ trang 181 đến 263).

Từ 1953 đến 1956, với Chiến dịch Giảm tôCải cách ruộng đất, chính quyền đã tiêu diệt xong thành phần địa chủ ở nông thôn. Từ 1956 đến 1960, là cuộc thanh trừng trí thức  trong một quy mô rộng lớn mà NVGP là tâm điểm. Cùng thời điểm ấy diễn ra cuộc Cải tạo tư sản ở thành thị. Ba giai đoạn: Cải cách ruộng đất, Cải tạo tư sản và Thanh trừng trí thức được Nguyễn Mạnh Tường phản ánh trong Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm).

Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm)

Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm),có tiểu tựa:Tiểu thuyết viết về Việt Nam từ 1950 đến 1990. Trang cuối ghi: Viết xong ngày 19/3/1993, giữa tuổi 84 và 85.

Bản thảo đánh máy khổ A4, 109 trang, thiếu 16 trang đầu. Mục lục đề rõ bốn phần: I- Cải cách ruộng đất. II- Cải tạo tư sản. III- Vấn đề trí thức. IV- Độc quyền đảng trị.

Và thêm phần cuối: Đối thoại giữa một người trí thức và một người cộng sản.

Vậy có thể hiểu: 16 trang đầu do tác giả tự ý bỏ đi. Đây là cuốn tiểu thuyết chính trị, mô tả và phân tích những giai đoạn chính trong đời sống miền Bắc thập niên 50.

Nguyễn Mạnh Tường soi ống kính vào chiến dịch Cải cách ruộng đất, tìm hiểu bộ não điều khiển để biến những người dân quê hiền lành chất phác thành những kẻ tàn ác trong đấu tố. Ông mô tả guồng máy bào chế căm thù đã được kiến trúc như thế nào, với con mắt quan sát tinh vi của một chứng nhân sống từ bên trong.

Tác phẩm có giá trị như một tư liệu lịch sử. Nếu Un excommunié (Kẻ bị khai trừ), (Quê Mẹ, Paris, 1992) mô tả phương pháp thanh trừng các trí thức tham gia NVGP, thì Une voix dans la nuit(Tiếng vọng trong đêm) mở địa bàn rộng hơn, truy nguyên đến nguồn cội, tìm hiểu lý do vận hành và mục đích của ba chính sách tiêu diệt: địa chủ, sở hữu chủ, và trí thức, để thiết lập chế độ vô sản chuyên chính ở Việt Nam. 

Cải cách ruộng đất

Nguyễn Mạnh Tường chú ý đến những gì xẩy ra trong hậu trường cải cách ruộng đất,  mô tả quá trình rèn luyện chính trị, học tập căm thù, tập dượt đấu tố, trước ngày vở kịch mở màn thực thụ trên đấu trường.

Địa điểm là một làng nghèo trong phủ Nho Quan. Lan, con gái út một công chức về hưu, nhà ở số 13, phố Hàng Giấy, Hà Nội, đang học năm thứ nhất trường Cao đẳng sư phạm sinh ngữ, môn Pháp văn, và Hiên, một bộ đội, cả hai được gửi đi học tập cải cách ruộng đất. Tình cờ gặp nhau, tình yêu chớm nở giữa hai người. Một cặp thanh niên khác, sau cũng trở thành vợ chồng, đó là Năng, ủy viên chính trị, đội phó đội cải cách, và Thủy, thành viên đoàn Thanh Niên Cộng Sản. Năng và Thủy sẽ trở thành giai cấp lãnh đạo.

Người đọc dễ dàng nhận ra: gia đình Lan chính là gia đình Nguyễn Mạnh Tường mà ông Cát, công chức thời Pháp thuộc về hưu, vai chính trong bi kịch cải tạo tư sản, là cụ Nguyễn Căn Cát, cha của tác giả. Những nhân vật này cùng nhau xuyên qua ba thời kỳ: Cải cách ruộng đất, Cải tạo tư sản và Thanh trừng trí thức, trong vị trí đối lập: một bên là trí thức, một bên là cộng sản, trong cuộc chiến một mất một còn.

Vào truyện bằng những dòng lãng mạn pha lẫn kinh hoàng, Nguyễn Mạnh Tường viết:

“Mặt trời chiều tan loãng trong ao vàng, quét những tia sáng xiên lên bầu trời phía tây tới tận thiên đỉnh. Theo đúng mệnh lệnh, Nho Quan, chôn vùi trong im lặng chết chóc, không động tĩnh, không bóng người vật, chó mèo không dám phóng qua đường! Không biểu hiệu sống nào chứng tỏ những cơn cuồng nộ, tàn ác của phi công địch sẵn sàng thả bom hay nã liên thanh từng loạt.

Trong cảnh ngày tàn, giữa lúc nhá nhem ma quỷ hiện, Nho Quan biến thành nơi tụ họp của những đoàn người buôn bán, ban ngày ẩn núp trong các làng mạc xung quanh, cách trung tâm thị trấn năm cây số: có người, vì khôn ngoan hay cẩn thận, đào cả hầm sâu ngoài đồng. Nhưng giờ thì bà tiên hoàng hôn đã cầm cây đũa thần đánh thức mọi người ra khỏi trạng thái hôn mê. (…)

“Trên không, nền trời xanh thẫm làm nổi bật ánh sáng rực rỡ từ các vì sao ganh đua nhấp nháy, rung động. Dưới đất, bóng tối âm u dâng ngọn triều, bao trùm lên cảnh vật mênh mông, hàng đoàn bạn hàng đi về phía chợ, vai gánh hai thúng đầy nông sản; những ngọn đèn nhỏ, móc trên đòn gánh, theo nhịp chân rảo bước, ngời lên ấn tượng nên thơ của những ngọn lửa vàng dắt nhau nhẩy múa” (Trích dịch trang 16-17).

Cuốn tiểu thuyết bắt đầu bằng những dòng thơ mộng đầy bí mật, nhưng rồi tác giả rời dần bút pháp văn chương, để đi vào bút pháp chính trị. 

Bài học thứ nhất về sự bóc lột và sự căm thù

Trên đường đêm từ Nho Quan về làng cách phố phủ hai cây số, Lan và Hiên tình cờ gặp nhau, họ theo Đội cải cách về đây để sống ba cùng. Đội trưởng là một nhà cách mạng lão thành và đội phó, Năng, một uỷ viên chính trị. Tám thành viên khác đều là cán bộ làm việc trong những cơ quan kháng chiến, tuổi không quá 20. Đêm đầu trước khi vào làng họ được nhận bài học khai tâm của ông Đội trưởng:

“Thưa các đồng chí, qua những lớp học chính trị, chắc các đồng chí đã biết rằng Đảng ta, sau khi đánh đuổi bọn thực dân hút máu mủ đồng bào, giải phóng Việt Nam khỏi ách nô lệ ngoại bang, trả lại cho người dân phẩm giá và danh dự của họ, đã tự lãnh nhiệm vụ tạo hạnh phúc cho dân. Một mai khi người lính thực dân cuối cùng rời bỏ xứ này, khi chúng ta trở lại làm chủ những tài nguyên thiên nhiên của chúng ta, thì ta phải xây dựng lại tổ quốc và sản xuất. Kẻ thù bên ngoài không còn dầy xéo lãnh thổ, nhưng chúng ta vẫn còn vướng mắc kẻ thù bên trong, cũng nguy hiểm không kém, vì tiềm lực của nó rất phức tạp, đa diện, mờ ám, vô hình, bí mật, và ẩn sâu trong nội tạng của chúng ta! Đó là sự ham thích bóc lột. Nó đẩy ta tới chỗ chiếm hữu của cải không do ta làm ra bằng mồ hôi nước mắt. Nhưng chúng ta không thể sống như ký sinh trùng trong xã hội, bằng sức lao động của kẻ khác.

Bản thân tôi chưa dám nghĩ chế độ cộng sản sẽ cố chấp đến độ tuyên bố rằng tất cả mọi hạt gạo kiếm được không do sức lao động, đều là sản phẩm của sự bóc lột con người. Nếu như thế, thì tất cả các sở hữu chủ, cho thuê động sản hay bất động sản để kiếm lời, đều là bóc lột. Ở thôn quê, mọi địa chủ không cầy cấy đất đai của mình mà cho cấy rẽ, đều là bóc lột. Trong làng này, chỉ có khoảng 15 héc-ta đất trồng cấy. Người giầu nhất có 7 héc-ta. Ba người kia chia nhau chỗ còn lại.

Đến đây, diễn giả ngừng một chút để đợi phản ứng của cử toạ. Không một lời nào cất lên phàn nàn vì chiến lợi phẩm nhỏ nhoi mà người săn sẽ thu lượm được. Biết rõ những gì xẩy ra cho những kẻ hay phản đối, hoặc bướng bỉnh muốn tỏ mình hay ho, ra cái điều “ta đây gì cũng biết”, tất cả ê-kíp ẩn trong im lặng, một sự ngậm tăm đầy ý nghiã.

Diễn giả tiếp tục: “Trong các đồng chí có người sẽ nghĩ rằng, con thú mà chúng ta lùng bắt không xứng với công săn. Tôi xin trả lời: ta không săn một con thú mà săn con trùng của một căn bệnh mà ta phải trừ tuyệt nọc, bằng mọi giá, để nó khỏi nhiễm độc xứ sở, lây lan dân tộc. Xã hội chủ nghiã chỉ có thể chiến thắng sau khi đã tiêu diệt sự bóc lột và những kẻ bóc lột tàn nhẫn và ác độc nhất. Vậy các đồng chí đã hiểu rõ ý nghiã của cuộc cải cách ruộng đất. Những ai góp phần vào công cuộc cải cách ruộng đất, là góp sức củng cố vững bền niềm tin vào chủ nghiã cộng sản và cũng tự dọn cho mình một chỗ đứng vinh dự trên Thành đài mới mà chúng ta đang xây dựng”.

Diễn giả lại ngừng một lát để cho những kiến thức mới, nhập vào óc người nghe, thấm thật sâu, rồi mới tiếp tục:

“Thưa các đồng chí, tôi vừa nhắc các đồng chí thế nào là chiến lược cộng sản. Bây giờ tôi sẽ nói tới cái mưu lược phải dùng ở nơi hẻo lánh này, mặc dù nghèo khổ cùng cực, cũng không ngăn được sự bóc lột lan vào tàn phá. Chúng ta sẽ dành những đòn thâm độc nhất cho tên đại địa chủ làng này. Việc quan trọng nhất không phải là kết án tử hình nó, mà trước hết phải hủy hoại thanh danh nó, giết chết lòng tự hào của nó, cắt tuyệt những hoài nghi cho rằng nó vô tội, đập vỡ lòng tự tin của nó về bản thân, về của cải mà nó đã chiếm đoạt bằng tội ác trên lưng người nông dân nghèo mà cuộc sống hàng ngày tưới đẫm mồ hôi và nước mắt, phải hạ nhục nó, kéo nó xuống địa vị con giun bò dưới đất mà ta nghiền nát dưới gót giầy! Những đãi ngộ mà ta dành riêng cho nó, không chỉ nhắm đưa đến cái chết đáng đời của nó mà hơn nữa, ta phải giật cái vòng hoa trên đầu nó xuống, cái vòng nguyệt quế cho phép nó đứng ngang hàng với thánh thần trong đầu óc người dân quê, họ đã quỳ mọp và hiến dâng lòng sùng kính của họ. Đó là phương tiện hữu hiệu nhất để đem lại cho những kẻ thanh bần này lòng tự tin và phẩm giá con người. Nhưng kết án và trừng phạt kẻ bóc lột, hãy còn là nhẹ. Ta còn phải bôi đen nó hơn nữa, không chỉ phơi bầy ra ánh sáng những hành vi ghê tởm trái với luật pháp và đạo lý của nó, mà còn nên chế thêm vào đó những hành động nhơ nhuốc bị luật pháp và đạo đức kết án. Kẻ bóc lột, có thể không làm những việc này, nhưng vì bị bản năng kích thích, nó vẫn vi phạm trong đầu. Những người nghiêm khắc, quan tâm đến sự công bằng, sẽ phản đối phương pháp này, nhưng tôi sẽ trả lời là tôi đứng trên bình diện chính trị chứ không phải trên khoa pháp lý, và nói theo ý thức quần chúng, ai muốn cứu cánh thì phải dùng đến phương tiện.

Thưa các đồng chí, tôi đã cho các đồng chí biết những thông tin cần thiết để thi hành bổn phận của các đồng chí. Tôi không nói quá khi tuyên bố rằng sự bóc lột và kẻ bóc lột là tử thù của chủ nghiã xã hội. Các đồng chí là những cán bộ có kinh nghiệm, là những chiến sĩ xung phong của Đảng. Vận mệnh của Đảng, hạnh phúc và tương lai của dân tộc tùy thuộc vào chiến thắng của chủ nghiã cộng sản mà các đồng chí là những người thợ thủ công. Ngay từ ngày mai, chúng ta bắt tay vào việc. Đảng muôn năm! Chủ nghiã Cộng sản muôn năm!” (Trang 20- 21)

Sau bài học thứ nhất của ông Đội trưởng, cả đội lên đường vào làng, mỗi người được phái ở một mái tranh, tập sống ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với chủ nhà, trong cùng một điều kiện sống.

Hiện tượng vắng bặt căm thù trong đầu óc người dân quê

Lan và Hiên được phân phối ở hai nhà cạnh nhau, đầu làng. Hai thanh niên tiểu tư sản thành thị lần đầu tiên tiếp xúc với cảnh khốn cùng, cuộc đời tăm tối, rách rưới, đói khát, bệnh tật của dân quê. Lan không tin trên thế gian này lại có những người cùng khổ như thế.

“Cả Hiên lẫn Lan đều không khỏi rùng mình khi bước qua ngưỡng cửa ngỏ gió lùa tứ phiá, một tấm phên tre khép hờ rách mướp đầy những lỗ hở há miệng cho gió bấc ùa vào trong những đêm đông. Mái tranh, nhiều chỗ rơm đã bị bầy chuột ngự trị ở đấy cắp đi hay chọc thủng, lộ những mảnh trời. Vách đất tróc từng mảng vì mưa gió và loài gặm nhấm tàn phá: ruồi chui đầy nhà qua những vết nứt dọc, kêu ầu ầu rất khó chịu” (Trang 22).

Sau một đêm thức trắng dưới mái tranh lộ thiên, sáng tinh mơ hôm sau Lan và Hiên gặp lại nhau, Lan se sẽ lên tiếng bình luận phương pháp “ba cùng” của Đảng, nhưng Hiên chặn lại ngay và giảng cho Lan biết những kinh nghiệm đầu tiên về cách ứng xử trong môi trường cộng sản mà anh đã học được trong quân đội: Im lặng. Không phê bình. Tránh phát biểu. Và họ bắt đầu áp dụng bài học đầu tiên của ông Đội trưởng, về sự bóc lộtsự căm thù ở ngay gia đình mà họ tá túc. Lan tìm cách trò chuyện với người chủ nhà để kích động lòng căm thù của họ đối với những kẻ bóc lột:

Nàng nói nhỏ với người chủ nhà:

– Có thể nào trên thế gian này, trong thời đại chúng ta đang sống lại có những khổ đau nhường này? Tôi thật không tin được những điều mắt thấy tai nghe. Còn bác, bác có ý thức được cái khổ của bác không?

– Cô chỉ hỏi lẩn thẩn. Nhà tôi từ ba đời nay vẫn vậy, có biết cái gì khác đâu. Riết rồi quen, chẳng còn tơ tưởng gì nữa. Muốn có miếng cơm vào miệng thì phải vã mồ hôi. Mà đau ốm hay xấu giời không ra đồng được thì phải nhịn đói. Các cụ vẫn bảo tay làm hàm nhai mà.

– Nhưng khi bụng đói, gạo hết, thì có ai giúp bác không?

– Cùng khổ như nhau cả. Chẳng ai giúp được ai. Ấy cái số nó vậy.

– Bác có xin được người giầu tí gì không?

– Xóm này làm gì có người giàu? Ngay địa chủ cũng chỉ có vài mẫu ruộng, được thừa kế, hay người ta đem cầm rồi bỏ, mà họ cũng chẳng giàu có gì, chỉ đủ ăn ngày hai ba bữa.

Lan hỏi:

– Thế bác không thù họ à?

– Sao lại thù? Giời thương ai thì người ấy được. Ông giời có cái lý của ông ấy. Mình cãi làm sao được với giời mà thù hận những người được giời thương?” (Trang 25- 26).

Trước những lập luận như vậy, Lan chịu thua. Không chỉ mình Lan mà nhiều người trong đoàn cùng có chung nhận xét: sự quái lạ của cái làng này. Mặc cán bộ chính trị tìm mọi cách kích động lòng căm thù giai cấp, họ vẫn trơ ra. Như thể những kẻ bị bóc lột, quá ngu muội không thể hiểu được cả một sách lược tân kỳ, nhờ ánh sáng chủ nghiã Mác-Lê mà Đảng đã tìm ra để cứu họ khỏi bàn tay độc ác của bọn địa chủ khát máu.

Buổi họp tối hôm đó, sau khi đội viên đã trình bày những điều mắt thấy tai nghe về các gia đình họ ở ba cùng, hầu như mọi người đều gặp nhau ở điểm: làng này không căm thù địa chủ! Hiện tượng “vắng bặt căm thù giai cấp” ở cái làng nghèo mạt rệp này, làm cho mọi người hoang mang, trầm ngâm suy nghĩ. Bỗng Thủy, một Thanh niên Cộng sản đứng lên xin phát biểu:

“Thưa các đồng chí, xin cho phép một thành viên của đoàn Thanh Niên Cộng Sản được phát biểu vài cảm tưởng. Tôi xin nhắc lại rằng Đảng ta đã bảo đảm sẽ thực hiện sự lãnh đạo của vô sản trên toàn đất nước. Đấu tranh giai cấp là khí giới lợi hại nhất để đạt tới mục đích này. Nếu ở thành thị, giai cấp thợ tranh đấu chống giai cấp chủ, là kẻ sở hữu những phương tiện sản xuất; thì ở thôn quê, người nông dân vô sản phải tranh đấu chống lại bọn địa chủ cường hào. Ở nước ta mức sản xuất kỹ nghệ chưa quan trọng, giới chủ còn èo uột, giới thợ còn yếu, sự tranh đấu cũng dễ.

Nếu cuộc đấu tranh giai cấp chưa giữ vai trò quyết định, ít nhất ở thành phố, thì nó cũng phải diễn ra trên hai bình diện khác nhau. Trước hết, trên bình diện quốc tế, trong sự đấu tranh chống thực dân giành độc lập cho xứ sở. Và trên bình diện quốc nội, người nông dân vô sản vùng lên chống lại bọn địa chủ cường hào. Kẻ bóc lột, dù nhỏ mọn thế nào, vẫn là kẻ thù của người nông dân lao động. Gia sản đất đai của nó dù chẳng đáng là bao, dù nó có đối xử tử tế với những người sắp chết đói đến ngửa tay xin ăn, và trở thành ân nhân của họ, gợi lên trong họ lòng biết ơn, ta vẫn phải chỉ đích danh nó ra để cho nông dân căm thù. Ta phải phát huy căm thù, nuôi dưỡng căm thù, bành trướng căm thù bằng tất cả mọi phương tiện, thậm chí, sáng chế những căm thù mới, bịa đặt những tổn thất nếu cần, để truy bức nó, để đánh qụy nó. Để chống kẻ thù giai cấp, tất cả mọi phương tiện đều tốt. Có quan hệ gì cách giết một con rắn độc, bằng hòn đá, bằng gậy gộc, hay bằng gót giầy!”

Trong khi Thủy thao thao bất tuyệt, cử tọa há hốc mồm nghe, và kinh hoàng tự hỏi không biết Thủy học ở đâu những điều này, mà dường như, Thuỷ cũng chẳng nói để trình bầy ý kiến riêng tư và thành thực của mình, mà chỉ nói cho những thành phần của Đảng nghe để lấy điểm. Toan tính rất đúng, bởi vì Ủy viên chính trị của đội cải cách tức khắc đứng lên khen ngợi” (Trang 27-28). 

Bài học thứ hai về sự bóc lột và căm thù

Lời khen ngợi Thủy của Năng, Ủy viên chính trị, Đội phó đội cải cách, là bài học thứ nhì về sự bóc lột và căm thù, lần này quyết liệt hơn bài học học thứ nhất của ông Đội Trưỏng đội cải cách. Uỷ viên chính trị nói thẳng đến những phương pháp phải dùng để đạt kết quả, đặc biệt đối với cái dân làng không tha thiết gì đến căm thù này:

“Thưa các đồng chí, tôi thật không ngờ trong Đội ta lại có một thiếu nữ như cô Thủy, đã trình bầy và bảo vệ một cách nhiệt tình và mãnh liệt quan điểm của Đảng đến thế. Tôi nhiệt liệt hoan nghênh Thủy đã tìm thấy đường đi. Nếu kiên trì cố gắng, cô sẽ tiến bộ rất xa. Về phần tôi, tôi xin phép được nói thêm vài câu, nhất là được nhấn mạnh ý nghĩa cuộc đấu tranh giai cấp. Tất cả lý thuyết cộng sản nằm trong đó. Không có đấu tranh giai cấp thì không có cộng sản. Đấu tranh giai cấp và cộng sản là một, một khối duy nhất. Thật vậy, nếu không có đấu tranh giai cấp, thì không có cộng sản. Sự thể là như thế bởi vì trong xã hội phân chia giai cấp, sự bóc lột ngự trị và những kẻ bóc lột muốn bảo tồn vĩnh viễn xã hội giai cấp, kéo dài cuộc chiến giữa người bị bóc lột và kẻ bóc lột. Người lao động gánh trên vai gông cùm của sự bóc lột, bắt buộc phải đấu tranh quyết liệt chống lại những giai cấp áp bức, bắt chúng phải chết trong bần cùng, đói khát.

Đấu tranh giai cấp là định mệnh của lịch sử, là con đường duy nhất giải phóng quần chúng lao động, dìu dắt họ lấy lại phẩm cách của con người. Bình thường ra, những kẻ bị bóc lột phải cảm thấy sự căm thù không nén được đối với đao phủ của họ. Tuy nhiên, như các đồng chí cũng đã nhận thấy ở đây, qua các cuộc nói chuyện với nông dân nghèo bị chiếm đoạt đất đai tổ tiên để lại, là họ không nuôi lòng thù nghịch thâm căn cố đế đối với những kẻ đã dìm họ xuống hàng súc vật! Hẳn các đồng chí đã hiểu những lý do giải thích thái độ, thoạt nhìn, không thể hiểu được này: Mỗi nông dân sắp chết đói được chúng bố thí cho một bát cơm! Để thổi phồng trái tim đói khát, có gì hơn là lòng biết ơn đối với kẻ đã cứu họ khỏi cái chết cận kề.

Thưa các đồng chí, đến đây, chúng ta cần phải kết án bọn thực dân, không những, chúng đã cướp hết tài sản của nhân dân ta, mà chúng còn dìm sự bần cùng trong vũng bùn ngu dốt và mù chữ. Làm sao những người thất học và thiếu văn hoá có thể dùng được phương pháp phân tích phê bình thực tế để có một phán đoán lành mạnh? Nếu lương tri bẩm sinh của họ được nhận thêm một sự đào luyện tinh thần tối thiểu, họ đã có thể có một phán đoán sáng suốt về ý đồ của lòng “từ thiện” này, mà mục đích duy nhất chỉ là cứu vớt nhân công, mà thiếu nó, đất đai của chúng sẽ bị bỏ hoang, không ai cầy cấy!

Vì thế, sự căm thù của vô sản đối với những kẻ chiếm đoạt đất đai của họ, phải được nẩy nở, phải được đào luyện vun trồng, để sản xuất ra những thành quả mong muốn trong cải cách ruộng đất. Tôi để các đồng chí tìm tòi những phương pháp nẩy nở căm thù, cung cấp thức ăn cho nó, nuôi dưỡng nó, đưa nó lên đỉnh cao, làm nở rộ động lực và tiềm năng của nó. Tiếng chủ lệnh là căm thù. Và để có căm thù, đôi khi phải sáng chế ra những hành động tán tận lương tâm của địa chủ, để kích thích sự phẫn uất nơi những kẻ biết ơn chúng. Triết học Tây Phương đã minh định: Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Muốn có cứu cánh, phải dùng đến phương tiện!

Căm thù và dối trá đi đôi với nhau. Cứu cánh mà chúng ta mơ ước, vinh quang đến độ chúng ta không thể trì hoãn trong sự lựa chọn phương tiện. Để tận diệt những kẻ bóc lột, tất cả mọi hình thức dối trá, dù trắng trợn đến đâu, đều có thể và phải được áp dụng, ngõ hầu biến bọn chúng thành ghê tởm, không xứng đáng sống làm người!

Trên mặt đất đã tẩy sạch sự bóc lột và kẻ bóc lột, những dân tộc có thể xây dựng xã hội chủ nghĩa và hưởng thụ một thứ hạnh phúc không ai mường tượng được! Thế giới mà chúng ta để lại cho con cháu, rạng ngời ánh sáng xã hội chủ nghiã, sẽ trong sạch, không một vết nhơ, như ngày sáng thế, và con cháu chúng ta sẽ được thụ hưởng hạnh phúc khiến chúng đời đời nhớ ơn chúng ta!” (Trang 28-29).

Bài học chính trị thứ nhì chấm dứt. Mọi người ra về. Đêm ấy, Hiên và Lan gặp nhau thì thầm, nỗi sợ bắt đầu. Lan đã thấy lại ở Thủy hình ảnh những thành viên của đoàn “Thanh Niên Cộng sản” xuất thân tiểu tư sản, mà nàng đã gặp ở Hà Nội, luôn luôn năng nổ, không ngần ngại làm bất cứ công việc đê tiện nào để đẹp lòng thượng cấp, dưới lốt “chiến sĩ vô sản” vẫn còn nặc mùi tiểu tư sản: trước đó không lâu, còn chăm lo tô son trát phấn để hy vọng kiếm tấm chồng giầu, chỉ một thời gian sau đã xoay ngược 180 độ, xin vào đoàn Thanh Niên Cộng Sản, trở thành “chiến sĩ thi đua”, thậm chí còn chọn người bạn đường thuần tuý gốc vô sản để tiến thân. Hiên điềm tĩnh phân tích tình hình chung:

“Nếu ngày mai những mẫu người như Thủy và Năng sinh xôi nẩy nở, dân tộc ta sẽ có những ngày đen tối. Những kẻ khát máu này đã đẩy sự dã man của chúng tới mức bịa đặt những dối trá giết người, tra tấn, cực hình những người lương thiện vì lòng tham, để chiếm của cải của họ, tệ hơn nữa, vì cuồng tín chính trị, để bảo đảm sự thắng lợi của ý thức hệ của chúng. Nếu lên cầm quyền, chúng sẽ tiêu diệt tất cả đối lập để giữ vững chỗ ngồi.” (Trang 30). 

Cuộc điều tra lần thứ nhì

Sau bài học thứ nhì về căm thù giai cấp, do Ủy viên chính trị Năng thuyết dậy, các đội viên cải cách bắt buộc phải tìm đủ mọi cách, để giải thích cho dân làng biết là họ bị bóc lột, và để kích động lòng căm thù, đội viên phải dùng cả cách khảo hạch, gần như đe doạ:

– “Bác có biết rằng mình bị bóc lột không? Rằng tất cả những khổ đau thể xác và tâm hồn của bác là cùng một mối mà ra, đó là sự bóc lột, mà bác là nạn nhân không?

– Tôi chả biết thế nào là bóc lột. Chỉ biết cái nghèo cứ đeo hết đời này sang đời khác, quanh đây hai ba cây số, rặt ngưòi nghèo. Con trai con gái, tới 15 tuổi là bỏ làng đi chỗ khác kiếm ăn. Tôi chẳng biết bóc lột là gì và cũng chẳng thấy mình bị bóc lột. Khi ốm đau thì hàng xóm láng giềng đến xức dầu bóp chân, cho bát cháo thay thuốc. Lá lành đùm lá rách vậy thôi. (…)

– Bác có đất cày không, đất của bác đâu rồi?

– Tổ tiên để lại vài mẫu ruộng. Những năm đói kém, không có gì ăn, phải đến gõ cửa địa chủ, xin họ cho cầm, đổi lấy mấy giạ gạo. Nhờ lòng tốt của họ mới có cái bỏ bụng cầm hơi, không thì đã chết rục lâu rồi. Năm này qua năm khác, không đủ tiền trả nợ, đành coi như mất.

– Cái đó người ta gọi là bóc lột đấy. Bác là nạn nhân của bọn lòng lang dạ sói, lợi dụng cảnh khốn cùng của bác để chiếm đoạt ruộng đất của bác. Bác phải căm thù đến tận xương tuỷ những kẻ khốn nạn đã cưỡng đoạt tài sản của bác.

– Sao cô lại xui tôi phải vong ân bội nghĩa, phải căm thù ân nhân đã cứu mình thoát chết? Khi chúng tôi sắp chết đói, có thấy mống cộng sản mà cô ca tụng nào mở tay làm phúc cho tôi miếng ăn, cứu tôi thoát chết đâu? Bây giờ lại bảo tôi phải căm thù kẻ đã cứu mình? Cô có biết là cô đang tuyên truyền cho cách cư xử vô nhân đạo, trời đất chẳng dung không?” (Trang 32-33-34)

Không thuyết dụ được người nghèo căm thù địa chủ, Lan và Hiên quyết định tìm đến tận chỗ ở của kẻ “hút máu mủ đồng bào” để xem chúng sống thế nào:

“Tưởng kẻ được gọi là kẻ thù của nhân dân đang sống xa hoa trong một lâu đài nào cách đó vài trăm thước. Cặp thanh niên ngạc nhiên trước bụi tre vây quanh nhà người địa chủ. Tường gạch và cửa có then gài, nhưng cũng là mái tranh, tuy dầy dạn thật và không có lỗ thủng nên mưa gió không thốc được vào nhà. Ba gian thông suốt thành một, chống bằng cột gỗ thị. Trong góc, một cái giường, trên trải chiếu cũ, ông chủ ngủ đó. Ở chéo đầu kia, một chiếc giường không chiếu, dành cho cô con gái. Gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên sơn son nhưng không có bài vị thiếp vàng như những nhà giàu có. Dấu hiệu duy nhất của sự sung túc là một cái chum tròn đựng gạo. Bên ngưỡng cửa, có một chậu thau rửa mặt. Gia cảnh khá hơn người dân quê nghèo, nhưng cũng chỉ là thanh bạch. Bây giờ họ hiểu tại sao vợ chồng người chủ nhà họ ở không ghét địa chủ. Nếu dùng ngôn ngữ cộng sản, thì cả hai ở cùng một giai cấp” (trang 34-35). Các đội viên khác đi làm ăng-kết cũng đều đưa đến kết luận tương tự.

Một người kể lại: “Người đàn bà mà tôi lên lớp, hết sức “quần”, buộc chị ta phải tố cáo tên địa chủ đã làm chị ô nhục, chị ta cực lực phản đối: “Không được đâu, cậu không thể bắt tôi làm cái việc tồi bại để phải hối hận suốt đời ấy. Không có, cái người hiền lành mà cậu lập mưu hành hạ không hề có thói trăng hoa. Ông ta có chạy theo đàn bà đâu, ông ta không hề có thói ấy, tính tình ông ta đứng đắn lắm!”. (Trang 35)

Lý do vắng bặt căm thù có thể giải thích khá dễ dàng: bọn “bóc lột” cũng không khá gì hơn những người “bị bóc lột”, họ cùng sống trong cảnh khổ như nhau. Thực tế mà các đội viên cải cách nhìn thấy khác xa những gì họ đã được học trong các lớp chỉnh huấn và mới đây, ông Đội trưởng và ông Đội phó kiêm uỷ viên chính trị, vừa nhắc lại.

Tổng dượt đấu tố

Hình thức “điều tra” bằng cách đem các đội viên về sống ba cùng trong làng, thực ra chỉ có tính cách hình thức, vì các màn đấu tố, các vai đã được chỉ định và đạo diễn từ bên trong. Các đội viên cải cách như Lan và Hiên chỉ là những người ngoại cuộc như những người khác.

Nghi lễ xử tội được dự định vào tối hôm sau trong ngôi chùa bỏ hoang đầu làng. Nhưng ngay từ sáng hôm sau, người ta đã bắt đầu tập dượt. Khi Hiên và Lan đến nơi, phần trang trí đã xong. Trên sân chùa căng một băng vải đỏ lớn dán những chữ cắt bằng giấy thiếp vàng công thức nghi lễ: Đảng Cộng Sản muôn năm. Dưới khẩu hiệu, là cái bàn phủ khăn trúc bâu xanh dành cho ba vị thẩm phán. Trong sân bày những hàng ghế dành cho cử tọa. Một xe phóng thanh trên đường mời dân chúng đến xem xử kẻ thù dân tộc, tên địa chủ hút máu mủ nông dân!

Ba vị thẩm phán, một nam hai nữ, được chọn trong đám người nghèo nhất vùng. Quần áo rách rưới được thay bằng một bộ đồ lành lặn. Họ có vẻ không thoải mái trong vai trò của mình, mắt xáo xác nhìn quanh, cái nhìn hoảng hốt của những con thú bị rình bắt. Tất cả đoàn Thanh Niên Cộng Sản được điều động dàn hàng hai bên sân chùa. Khi mặt trời vừa ló dạng dưới chân trời, Năng, Đội phó Đội cải cách hiện ra chỉ đạo việc dàn cảnh; điều chỉnh điệu bộ của các vị thẩm phán, bắt họ phải ngồi ngay ngắn, đầu ngửng cao; Năng cất giọng lên lớp:

“Lời khuyên đầu tiên mà tôi dặn các anh chị là phải quên mình là nông dân nghèo. Các anh chị là đại biểu của nhân dân và nhân danh nhân dân để phán quyết. Vậy cuộc Cải cách ruộng đất mà chúng ta đang chấp hành đây, là gì?

Có phải mục đích duy nhất chỉ là lấy lại đất đai mà những kẻ bóc lột đã chiếm đoạt của các anh chị không? Nếu chỉ có thế, thì Đảng chỉ cần ra một nghị quyết là xong ngay. Có phải là để loại trừ tầng lớp địa chủ ra khỏi xã hội không? Cũng không phải. Bởi Đảng chỉ cần hạ lệnh bỏ tù hoặc xử tử là đủ! Không, các đồng chí nông dân, vấn đề phức tạp hơn nhiều!

Vấn đề cơ bản không phải là trả lại ruộng đất cho những người đã bị cướp; cũng không phải là trừ khử khỏi xã hội những kẻ bóc lột vô liêm sỉ, mà là tái thiết lại ở người nông dân, cái nhân phẩm và danh dự của một con người, như một thành viên trọn vẹn của xã hội, người nông dân bên cạnh người thợ, bạn đồng hành muôn thủa. Chúng ta đã làm cách mạng để quét sạch xã hội những rác rưởi, những sở hữu chủ sống xa hoa, trên mồ hôi và sự nhọc nhằn của quần chúng cần lao! Vậy làm sao ta có thể chấp nhận cho bọn ăn bám ấy phát phì bằng máu mủ người lao động?

Có cần phải nhắc lại cho các đồng chí biết rằng, để bảo tồn sự thống trị vĩnh viễn của chúng, những kẻ bóc lột này, còn chó má đến độ, chúng rao giảng cái chủ nghiã nhục nhã được gọi là tiền định và chúng truyền bá trong thành phần lao động cái chủ thuyết không thể chấp nhận được, theo đó, số phận của mỗi người đã được số mệnh xác định từ thiên cổ.

Số mệnh do trời định và con người bị bắt buộc phải chấp nhận phận mình. Con người không thể chống lại mệnh số cũng không thể hướng số mệnh theo ý mình. Cái thuyết định mệnh này xâm nhập vào trí óc của đồng chí, thấm vào máu, trở thành da thịt thân thể đồng chí. Niềm tin vào định mệnh không những hủy diệt tất cả mọi cố gắng cá nhân để con người thoát khỏi ngõ cụt dẫn vào tuyệt lộ, mà còn chỉ đạo cả tình cảm lẫn thái độ của người bị bóc lột trước kẻ bóc lột! Kẻ bóc lột được hưởng sự phù hộ của trời, vì vậy chúng có quyền nhận tất cả mọi hình thức tôn kính, mọi hình thức tận tụy, hoặc ít ra là thương mến, từ phía người bị bóc lột. Cuộc Cải cách ruộng đất của chúng ta chiến đấu chống lại sự phục tòng và áp chế này!

Trái tim của người bị bóc lột phải tự đơm đầy thù hận kẻ bóc lột. Người bị bóc lột được hưởng sự nâng đỡ và thế lực của Đảng trong công cuộc đấu tranh cho chính nghiã, để đưa toàn thể giai cấp trở lại địa vị con người. Đừng ngại thô bạo trong lời nói, trong cử chỉ, trong những lăng mạ, những bất công, đối với kẻ bóc lột! Ta càng quyết liệt bao nhiêu, càng sớm thoát khỏi sự hạ mình mà chúng đã buộc ta vào, và các đồng chí càng xứng đáng là người vô sản, xứng đáng trở thành giai cấp lãnh đạo của thế giới mới!

Chiến thắng mà các bạn mang lại đêm nay sẽ mở đường cho các bạn vào hàng ngũ của Đảng đang hân hoan đón chờ các bạn!

Năng đã thuyết pháp với tất cả ngọn lửa hùng biện võ biền và phe phái. Những Thanh Niên Cộng Sản ngồi hàng ghế hai bên sân, lắng nghe, miệng há hốc trong khi ba vị thẩm phán hồn xiêu phách lạc; mắt trợn ngược đảo tròn khắp không gian, như muốn kêu trời đến cứu! Trong hai ngày qua Năng và Thuỷ đã tìm hết cách giải thích cho họ những điều mà Đảng muốn họ làm và chờ đợi ở họ. Đã dạy họ phải gào thét, phải chỉ tay về phía bị cáo đòi đền tội, phải giơ tay lên trời để tỏ ý phẫn nộ. Bắt họ lập đi lập lại những câu hỏi đập nát đầu bị cáo. Bảo cho họ biết phải tuyên bố án quyết như thế nào, và cả “lý do” của cái án tử hình! Sửa lỗi câu cú, lỗi phát âm sai, có thể làm cử tọa cười bò. Nghệ thuật dàn cảnh của họ không chê vào đâu được. Dù muốn dù không, cũng phải công nhận ở những người cộng sản, thuật hoá trang, trá hình, trang điểm, diễn kịch, tạo nhân vật, phối hợp các màn diễn của các nhân vật, đã được huấn luyện với một nghệ thuật hoàn mỹ.” (Trang 36- 37)

Sau buổi tổng dượt, Hiên và Lan đều kinh hoàng. Họ thì thầm hỏi nhau:

– Chẳng biết Đảng âm mưu gì đây? Đảng chơi cái trò gì đây?

– Một trò không tinh vi, không tế nhị, phô bầy sự trơ tráo vô liêm sỉ. Những người chính trị đã cùng nhau thoả thuận như thế. Họ sáng chế ra một thứ tội ác mới: tội bóc lột và đổ lên đầu giai cấp mà họ muốn trừ khử, tiêu diệt tận rễ, giai cấp giàu có. Phương pháp giản tiện và nhanh chóng nhất là tập trung những sở hữu chủ động sản và bất động sản lại và nã súng liên thanh vào như một số nước đã làm trong thế chiến thứ nhì. Nhưng làm như vậy sẽ phạm tội ác chống nhân loại và sự trả thù của các dân tộc sẽ kinh hồn đối với bọn đao phủ. Vì vậy họ chọn dùng khí giới luật pháp để đạt mục đích mà không bị trừng phạt. Do đó mà có cả: Tội ác, toà án và bản án! Nhưng sự mạo nhận pháp luật này không đánh lừa được ai cả: mọi người đều biết tỏng những ý đồ xấu xa của những kẻ chủ mưu tiêu diệt hàng triệu người vô tội, mở trong tâm hồn người Việt một vết thương há miệng có thể không bao giờ lành!” (Trang 39).

Đó là những lời phê bình cuối cùng của Hiên, trước khi kịch mở màn.

Sau bữa ăn tối, buổi đấu tố diễn ra đúng như đã được tập diễn:

“Ăn vội vàng cơm tối, rửa bát xong, Năng và Thủy gặp lại nhau trên đường cùng đến chùa, duyệt lại lần chót buổi trình diễn sẽ bắt đầu khi trời vừa tối. Khi họ tới nơi, tất cả đã đâu vào đấy. Ba vị thẩm phán nhân dân do Đảng chỉ định đã có mặt, hăng hái đợi lên diễn đàn. Theo nhận xét của Thủy, hai phụ nữ vào vai dễ dàng vì họ chuyên cãi lộn với bạn hàng và những con mẹ lắm điều ngoài chợ, họ sành sỏi ngôn ngữ hàng tôm hàng cá và tối ưu trong việc vận dụng tiếng chửi thề. Họ còn biết đủ trò lườm nguýt và la làng. Ngược lại người đàn ông có vẻ rụt rè sợ sệt, bối rối. Những Thanh Niên Cộng Sản được chiêu mộ trong vùng, khoảng hai chục người, sẵn sàng ném mệnh lệnh cho khán giả, và hò hét những khẩu hiệu thích ứng, tay nắm chắc những bó đuốc, mà chốc nữa, sẽ đốt lên soi tỏ sân khấu. Chưa bao giờ xóm này tổ chức một cuộc liên hoan như vậy. Tất cả những người hiếu kỳ bị tính cách dị thường của ngày hội lôi cuốn, đều không hiểu sự khác biệt giữa một buổi diễn tuồng và một toà án quyết định số phận một con người! Trong khi chờ đợi, trẻ con chơi diều và những người đàn bà nhà quê thi nhau nói huyên thiên chả đâu vào đâu cả. “ (Trang 39).

Trong cảnh trí lễ hội như thế, nạn nhân được đưa ra đấu trường:

“Đêm vừa xuống, bỗng một thứ im lặng nặng nề đổ xuống kềm chặt mọi người. Bọn Thanh Niên vội vã châm đuốc, các vị thẩm phán vội vàng an tọa sau chiếc bàn phủ khăn màu. Ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu tố cáo nét xương xẩu trên những khuôn mặt cao gò má.

Bị cáo đến, bước nặng nề, vòng còng sắt xích chân đập vào sân gạch vang âm ghê rợn. Áo quần hoen ố bùn và máu. Mặt sưng vù điểm những vết bầm tím quanh hai mắt mở hé. Tội nhân khó nhọc bước đi giữa hai người gác, một cầm gậy, một cầm gươm phường tuồng tuốt trần. Đoàn tùy tùng ô nhục hộ tống bị can chân lảo đảo bước chỉ chực ngã. Hai nữ thẩm phán theo đúng lệnh đứng dậy chửi phủ đầu:

– Thằng khốn nạn kia, mày đóng kịch để những kẻ yếu bóng vía thương hại mày, nhưng không qua mặt được bà mày đâu! Ngày trước, khi bà đến xin mày bố thí bát cơm cho con bà sắp chết đói chết bệnh, mày đứng trên ngôi cao, nhìn bà từ đầu đến chân, rồi ra lệnh cho con gái thả chó đuổi ăn mày. Đồ tồi bại, lúc ấy mày đâu ngờ có ngày sẽ bị bà xử tội, tử hình đấy con ạ!” (Trang 40)

Buổi đấu tố đạt thành quả mỹ mãn.

Nhưng sau đó, ông Tổng Bí Thư nhận được bản phúc trình của Năng và Tụy, nội dung tố cáo hành động của viên Đội trưởng đội cải cách, nhấn mạnh đến sự kiện viên Đội trưởng tuy theo cách mạng từ lâu nhưng trong những buổi học tập chính trị, lại có những lời lẽ đáng ngờ, chủ yếu là sau khi giải thích ý nghiã cuộc Cải cách ruộng đất, hắn còn chêm vào: nếu ta làm cách mạng để lấy lại phẩm giá con người cho thành phần bị bóc lột thì ta cũng không thể coi kẻ bóc lột là con vật. Khi trừng trị họ rồi thì cũng phải cho họ cái quyền làm người.

Nếu hắn chỉ phát biểu trong nội bộ, thì ta cũng có thể làm ngơ vì không nên để cho bên ngoài biết có sự bất đồng nội bộ, nhưng ngày hôm qua hắn làm nổ một xì căng đan lớn giữa công chúng. Mặc dù hai bồi thẩm phụ nữ đã rất xuất sắc trong vai trò của mình, khiến bị cáo phải vòng tay, cúi đầu, nhắm mắt, nhục nhã, đi không vững, nhưng chưa ngã. Nhưng khi chánh án tuyên bố tử hình, vì bị sốc mạnh, cộng thêm bị đánh và bỏ đói trong nhiều ngày, hắn đưa tay lên chặn tim rồi ngã lăn đùng ra đất. Bản phúc trình viết: “Người đầu tiên đến cứu kẻ hấp hối là Đội trưởng đội cải cách, đã bế xốc hắn lên đưa vào trong chùa”. Một xì căng đan không thể tha thứ được. Tổng Bí Thư chấp hành ý kiến của Năng và Tụy.

Sau vụ thanh trừng Đội trưởng đội cải cách, bị quy là có nguồn gốc “quốc gia”, không còn một tiếng nói lương tri nào dám đứng lên chống lại những tàn ác trong Cải cách ruộng đất nữa. Năng và Thuỷ toàn thắng trong nghĩa vụ. Năng sẽ được Tổng Bí Thư tin dùng.

Cải tạo tư sản

Sau Cải cách ruộng đất, Hiên và Lan trở về Hà Nội và họ làm lễ cưới. Lương hai người sống chật vật, không đủ tiền thuê nhà, phải ở nhờ cha mẹ Lan. Ông Cát là công chức thời thuộc địa về hưu. “Sau một đời tằn tiện, hai ông bà có được căn nhà nhỏ số 13 phố Hàng Giấy. Hai tầng, mỗi tầng 28 mét vuông. Tầng dưới cho một tiệm hớt tóc thuê. Dưới thời Pháp thuộc, lương một người thư ký trong chính quyền Pháp, cần kiệm sống được ba người. Khi ông Cát về hưu, số tiền cho thuê tầng dưới cộng với lương hưu đủ ba người ăn tiêu tằn tiện. Nhưng sau khi chính phủ kháng chiến về Hà Nội, quỹ lương hưu cũng rời Hà Nội, tất cả những người về hưu bị cắt nguồn lợi tức chính thức cuối cùng, giúp họ có bát cơm hàng ngày. Ông bà Cát phải thắt lưng buộc bụng, nếu không còn món tiền thuê của tiệm hớt tóc nữa họ sẽ phải ăn xin” (Trang 47-48).

Trong cái “câu lạc bộ đói” và cũng là bạn đồng hành của ông Cát, có những người tứ cố vô thân:

“Đó là những người không gia đình, vừa chôn vợ xong, không con, hay con cái đã chết trong chiến tranh. Người ta bố thí cho họ một góc bếp, đêm lạnh như những mũi kim châm giết người chọc thủng da thịt. Sáng ra, người ta thấy họ co quắp trong tấm chăn thủng, chiếc chiếu rách. Thời gian đầu, những người bạn cùng khốn nhịn ăn bóp chắt chút tiền góp mua cho họ chiếc quan tài. Rồi sau, những người bạn ăn mày đó cũng chỉ hai ba ngày mới có miếng cơm vào miệng, không ai còn khả năng đóng góp gì nữa. Những xác bị chất đống trên xe ba gác, rồi quẳng vào hố cộng cộng, như thời cả nước chết đói trước đây! Chỉ vài người như ba, nhờ có tý nhà cho thuê là còn sống”. Người cha già lau những giọt lệ cay đắng chảy từ khoé mắt “ (trang 50). Ông bà Cát còn chút may mắn, nhưng cũng không yên thân được lâu.

“Một thời gian sau, người cha già nhận được “giấy mời” đi dự hội nghị Cải tạo tư sản ở Hà Nội. Có những “giấy mời” không thể chối từ.(…) Người thuyết trình không ai khác là Năng. (…) Hôm nay với tư cách là Phó chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội, Năng, khéo léo ban cho những “kẻ thù của dân tộc” hai chữ “đồng chí”, nhắc lại công lao giải phóng dân tộc và đưa đất nước lên hàng quốc tế của Đảng, trước khi vào chính đề:

“… Trên bình diện nguyên tắc, các đồng chí cũng biết rằng chủ nghiã cộng sản quyết tâm chiến đấu chống tất cả mọi hình thức bóc lột. Chế độ của chúng ta chỉ cho phép người lao động sống, và phải sống bằng kết quả việc làm của mình. Chúng ta chiến đấu kịch liệt chống những ký sinh trùng xã hội sống không làm việc mà nhờ chiếm đoạt kết quả lao động của người khác! Nhờ ăn cắp hay bóc lột. Ví dụ kẻ bóc lột, có một toà nhà: nó có quyền ở cùng với gia đình. Nhưng một khi nó cho thuê, một phần hay cả nhà để lấy tiền sống, là nó đã bóc lột, bởi vì nó không sống bằng việc làm, mà sống bằng lợi tức thu được. Xã hội cộng sản không có chỗ cho kẻ bóc lột, chỉ có người lao động mới được vinh dự hưởng mọi quyền lợi trong xã hội này. Trong trật tự chính trị mới này, không có chỗ cho bọn ký sinh, cũng không có chỗ cho bọn bóc lột. Chúng ta kịch liệt chống lại những cái ác và không sờn lòng quyết chí trừ khử tận rễ. (…)

Tôi xin nhắc lại với các đồng chí rằng Đảng ta, sau khi lấy lại nền độc lập và tự do, đã trân trọng cam kết sẽ đem lại thịnh vượng và hạnh phúc cho dân tộc và đã quyết định phát động cuộc chiến một mất một còn với sự bóc lột dưới mọi hình thức.

Thế nghiã là gì? Nghiã là tất cả lợi tức trái phép từ việc cho thuê nhà, thuê đất kiếm lời, đến cán bộ ăn đút lót bán chữ ký, bán đặc ân, đều bị luật pháp trừng trị…

Luật chứng nhận hợp pháp tiền cho thuê nhà xuất thân và mang tính cách tư bản chủ nghiã. Chúng ta bãi bỏ luật này từ hôm nay. Ở chế độ ta, chính trị đi trước pháp luật và chỉ cho luật pháp con đường phải đi. Chính trị là lệnh đầu và lệnh cuối của tất cả. Tôi xin lưu ý các đồng chí rằng, ngay một nghị quyết được thảo dưới định chế của một bộ luật cũ và được bộ luật ấy công nhận giá trị, cũng sẽ bị tước bỏ giá trị của nó nếu chính trị quyết định khác. Thậm chí, một biện pháp chính trị có thể có tác dụng hồi tố chống lại quan niệm của luật gia tư bản. Trong trường hợp mà chúng ta đang xét, sự hồi tố của quyết định chính trị, bắt buộc những người chủ nhà phải trả lại những số tiền thuê nhà đã thu được trong quá khứ. Có thể họ đã mua vàng với những số tiền này: vậy vàng hay tiền mặt còn lưu trữ trong nhà phải được trả lại cho nhà nước. Các đồng chí đừng vội hoảng, Đảng ước định rằng, sau khi các đồng chí đã trả hết số vàng và tiền mặt còn giữ, các đồng chí cũng chẳng chết đói đâu mà sợ. Các đồng chí vẫn còn đủ để sống một đời sang trọng gần như trước. Dĩ nhiên là từ nay, bị tịch thu hết bất động sản, chỉ được giữ đúng một diện tích để ở với gia đình. Chỗ còn lại sẽ được cơ quan thành phố quản lý và tất cả quyền sở hữu đều bị hủy bỏ! (…)

Xin nhắc lại rằng trong tất cả xã hội loài người, hai yếu tố cấu thành chung thân xung đột nhau là cá nhân và tập thể. (…)

Chiến thắng mà cha ông ta hằng mơ ước sở dĩ chúng ta đạt được là bởi vì chúng ta nghe theo tiếng gọi của Đảng, chấp nhận hy sinh xương máu. Đảng độc quyền lãnh đạo và quyết định rằng chính trị là trên hết, trên các luật lệ, trên cả luật pháp và đạo đức nhất là nếu chúng tán dương cá nhân chủ nghiã và cá nhân con người.

Khả năng cá nhân bị giới hạn trong thời gian và không gian, bị giảm hiệu năng vì luôn luôn bị lôi kéo trong đam mê và tội lỗi, làm sao có thể ganh đua với sức mạnh vô song, khôn lường của một tập thể đã được sự chỉ đạo của một quyền lực sáng suốt và có ý thức? Nhất là khi cá nhân chủ nghiã cho phép một hoạt động đi ngược lại con đường chính trị của tập thể, ví dụ, nó chấp nhận quyền bóc lột, trong việc nhận tiền thuê nhà! Chính vì tình trạng này mà Đảng ban bố sắc lệnh Cải tạo tư sản để triệt hạ quyền bóc lột mà chủ nhà được hưởng.

Thưa các đồng chí, vấn đề trước mặt các đồng chí thật rõ ràng: Chịu ở mãi địa vị bóc lột, ngửa tay nhận tiền puốc-boa trái phép, nhục nhã, thêm sự căm thù của người thuê? Hay ngược lại, quyết định lấy lại phẩm cách con người, người lao động trong một nước tự do, độc lập, theo Đảng, tuân lệnh Đảng, cùng góp phần với Đảng trong công cuộc đấu tranh giai cấp? Đảng mở trước mặt các đồng chí con đường vinh quang và hạnh phúc trong sự xây dựng xã hội chủ nghiã, bằng cách tiêu diệt hoàn toàn sự bóc lột trong xã hội ta. Nay, Đảng dạy rằng sự bóc lột chỉ biến mất nếu ta thi hành chính sách tập trung tất cả của cải, bất luận thứ gì, thậm chí, tập trung cả mọi phương tiện và trung tâm sản xuất kỹ nghệ cũng như thương mại. Chắc chắn các đồng chí sẽ mất sự hưởng thụ cá nhân quyền sở hữu nhà cửa. Tôi đồng ý đối với một số đông, sẽ là khó khăn đấy. Nhưng các đồng chí và thế hệ con cháu sẽ thắng lợi trong sự lấy lại phẩm chất của một công dân bình đẳng, trong một Quốc gia tự do và độc lập! Tôi bảo đảm: không bao giờ các đồng chí sẽ phải hối tiếc đã theo Đảng, đã tuân thủ những mệnh lệnh của Đảng!”

Diễn giả ngừng. Đảo mắt khắp phòng. Có thể, vì thói quen, trong những cuộc họp khác, y đợi những tràng pháo tay của một cử toạ đã được huấn luyện trước? Nhưng lần này, một sự im lặng chết chóc chào đón lời y. Trong mắt một số sở hữu chủ lớn, ngời lên một tia sáng: Phải chăng đó là sự tức giận, sự căm thù, hay là diễn tả cơn cuồng nộ báo oán, hay một quyết định yếm thế giữ khoảng cách với cộng sản và nếu cần thì bỏ xứ ra đi? Mọi ức đoán đều khả thể.

Ngược lại, phản ứng của những người chủ nhỏ giống nhau, không thể lầm lẫn được bởi trên mặt họ hiện nên sự nặng nề đau khổ, tất cả đều rưng rưng nước mắt. Họ đã bị mất phần lương hưu, sống nhờ món tiền nhỏ mọn cho thuê lại một vài mét vuông phần nhà đang ở. Bây giờ, tất cả mọi diện tích cho thuê, lớn nhỏ, đều bị giật khỏi chủ nhà, để cho nhà nước quản lý, và tất cả người thuê phải được một cơ quan hành chính chấp nhận, cơ quan này thu tiền nhà và trả vào quỹ nhà nước, những chủ nhà nhỏ, độc thân, không có gia đình, không được hưởng bất cứ trợ cấp hay sự giúp đỡ nào, thấy trước mắt hình ảnh khủng khiếp của nạn đói một khi đã tiêu hết tiền tháng trước. Cơn ác mộng chết chóc mỗi đêm ám ảnh cướp giấc ngủ. Có người còn đủ sức, lê gót đến bờ sông gieo mình xuống nước rút ngắn nợ đời. Có người, co quắp, mặt không còn thịt, hai gò má hõm sâu hoắm, rơi xuống vỉa hè ngủ giấc cuối cùng. Có người giữ phép lịch sự và chững chạc tới phút chót, mặc bộ quần áo cũ lành lặn nhất nằm dài trên sân căn nhà nát, một phần đã cho thuê, nhường chỗ của mình cho một kẻ trú đêm. Sáng ra người ta khám phá những xác chết không gia đình ấy quận tròn trong manh chiếu rách thay quan tài và được vất trong hố công cộng. Sự bóc lột của thực dân chấm dứt không kèn không trống như thế! (Trang 55- 56- 58).

“Bỗng nhiên trên báo chí hàng ngày, con số tai nạn lưu thông vọt lên cao như tên bắn và kỳ lạ là tất cả những nạn nhân bị xe hơi cán thường là những người già gầy trơ xương. Chưa bao giờ người ta vớt được trên sông Hồng nhiều xác ốm o đầu bạc như thế. Ấy là chưa kể đến những người sáu chục, bẩy chục tuổi, không chịu được cái sốc bị mất phần lợi tức nhỏ nhoi giúp họ có cái lấp đầy bụng đói đang reo: đầu óc rối loạn, áo quần rách rưới, họ bỏ chiếc ghế bố đi rong khắp phố phường vừa đi vừa nói lảm nhảm, không ai hiểu, trước khi ngã lăn đùng bên một bờ dốc”. (Trang 73)

Sau khi thuật cho con nghe tình hình chung của các bạn mình, người cha già kết luận:

“Cuộc cải tại tư sản do Đảng ban hành để chấm dứt sự bóc lột dưới tất cả mọi hình thức để xây dựng xã hội chủ nghiã, đã chiếm đoạt quyền sống của cha mẹ. Chưa bao giờ ở nước ta và trong cả lịch sử loài người, một chính quyền khẳng định sự áp chế vô nhân đạo đến độ không đoái hoài đến nỗi đau khổ cá nhân và gia đình như thế; chưa bao giờ, kể cả trong lúc thác loạn điên khùng nhất, một bạo chúa dám động đến quyền sở hữu cá nhân và đập vỡ viên gạch nền móng của xã hội loài người. Con người chỉ làm việc để bảo đảm quyền sống. Trong số những giấc mơ thúc đẩy họ sốt sắng theo đuổi những cố gắng là có mái ấm gia đình. Khác với một số loài vật dã man tụ tập thành lũ, thành bầy, con người luôn luôn cảm thấy cần phải cá nhân hoá sự hiện hữu của mình. Nếu hắn làm việc, là để có một đời sống cá nhân theo sở thích của hắn, để sống những ngày bình yên trong lòng một gia đình với ngưòi vợ hắn đã chọn và những đứa con sinh ra từ máu mủ của mình. Hắn chỉ mong ước có một mái nhà cho những người thân yêu trú ngụ, với họ, hắn sẽ học hỏi, xây đắp, làm nẩy nở nhân cách, để cho cuộc đời hắn đạt cái ý nghiã cao nhất và đầy đủ nhất. Đối với hắn, quyền sở hữu cá nhân đối với gia đình và mái nhà, cũng cần thiết như khí trời để thở, như bát cơm để ăn. Chính vì thế mà con người khác loài vật, chính vì thế mà văn minh tiến bộ. Ngay từ lúc nhà cầm quyền khởi sự đấu tranh chống sở hữu cá nhân nhà cửa, hướng đòn đánh vào cá nhân, nhân danh tập thể, họ phải biết rằng họ đã phá vỡ cơ sở căn bản của xã hội, đã đánh sập nền móng Nhà Nước, do đó phá vỡ bệ trụ trì quyền uy của họ”. (Trang 59).

Kỳ tới: Vấn đề trí thức và Độc quyền đảng trị.

This entry was posted in Tin Việt Nam. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s